Nhưng một phóng viên dù không thuật lại những điều anh ta cho là giả dối vẫn có thể có nhầm lẫn. Để minh họa cho phương pháp này, chúng ta hãy xem xét một định nghĩa. Tuy nhiên, cách này sẽ không hiệu quả nếu bạn không tỉnh táo khi đọc sách.
Tiếp cận đúng cách là như thế nào? Câu trả lời nằm trong một quy tắc đọc quan trọng và hữu ích mà chúng ta thường bỏ qua. Xem xét tác phẩm này, bạn sẽ thấy không khó khăn gì để tìm ra những nội dung chính của nó. Chỉ bắt đầu phê bình khi bạn đã hoàn thành quá trình lập dàn ý và hiểu được nội dung của cuốn sách.
Thứ ba là vấn đề sử dụng cụm từ. Người nói hoặc người viết có kỹ năng tu từ tức là biết cách thuyết phục hoặc tạo dựng niềm tin nơi người nghe hoặc người đọc. Cũng như quy tắc về từ và thuật ngữ, ở đây, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
Khi đọc và nghe, chúng ta phải suy nghĩ, cũng giống như việc phải suy nghĩ trong khi nghiên cứu. Nếu môi trường chúng ta đang sống rơi vào trạng thái khủng hoảng thì tất yếu chúng ta cũng bị liên quan. Một thuật ngữ không phải là một từ, ít nhất cũng không phải một từ đơn thuần không có tính chất gì đặc biệt.
Có thể, anh ta có một thuyết hay một triết lý chung nào đó, giống như Thượng đế điều khiển mọi chuyện của con người và làm cho câu chuyện lịch sử của anh ta khớp với lý thuyết đó; hoặc anh ta có thể bỏ bất cứ khuôn mẫu nào ở trên, thay vào đó tuyên bố rằng anh ta đơn thuần tường thuật lại những sự kiện đã thật sự xảy ra. Nhưng nó tự khẳng định mình dù đã đến bờ vực của sự diệt vong. Tác giả sách thực hành có thể viện đến nhiều yếu tố để thuyết phục người đọc rằng các quy tắc nêu trong sách là hợp lý hoặc minh họa sự hợp lý đó bằng cách cho người đọc thấy được cách thức hoạt động của chúng trong trường hợp cụ thể.
Không loại sách tham khảo nào có thể trả lời tất cả các câu hỏi. Một độc giả nếu chỉ đồng ý với một phần của cuốn sách có thể do dự khi phải nhận xét về tính hoàn chỉnh của tác phẩm. Có những bài kiểm tra chặt chẽ về giá trị các câu trả lời của các câu hỏi triết học, nhưng chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm của một người bình thường chứ không phải của một triết gia.
Giả sử, bạn có một danh mục gồm hàng trăm tên sách mà thoạt nghe đều viết về tình yêu. Độc giả nào không tìm ra nhận định ẩn dưới lớp vỏ của từ ngữ có thể sẽ coi những câu tương đương nhau là những nhận định khác nhau. Tác phẩm đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng như Pháp, Thuy Điển, Đức, Tây Ban Nha, Italia và bây giờ là Việt Nam.
Một sự thay đổi nhỏ trong thói quen có thể đem lại hiệu quả to lớn là như thế. Đơn vị logic mà quy tắc 7 hướng tới là lập luận - một chuỗi những nhận định, cái nọ bổ trợ cho cái kia. Trong năm hình thức trên, có lẽ phổ biến nhất từ trước đến nay là kiểu viết theo kiểu chuyên luận hay bài luận.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều gì đáng ra nên làm, nhưng khi không có thời gian liệu ta có thể sáng suốt như vậy không? Đó là câu hỏi bạn nên đặt ra thường xuyên khi đọc các bi kịch Hy Lạp. Những thành phần đó có thể thay đổi theo diễn biến của chính cuốn sách đó hoặc thay đổi giữa các cuốn sách với nhau khiến cho việc phân tách chúng là không dễ dàng. Đọc một bài thơ là công việc kéo dài cả cuộc đời nhưng không có nghĩa là bạn phải đọc nó suốt cuộc đời mà nó mang ý đây là một bài thơ hay, xứng đáng được đọc nhiều lần.
Nếu người đó đã nghiên cứu về chủ đề này thì ngoài việc nói bạn nên đọc đoạn nào, rất có khả năng anh ta sẽ tiện thể nói luôn cách đọc chúng như thế nào và điều này có thể gây khó khăn cho bạn. Nhưng cũng có sản phẩm mang tính lựa chọn chỉ có thể áp dụng cho một nhóm người nhất định và độc giả phải tự quyết định mình có thuộc nhóm đó hay không. Riêng cụm từ vấn đề xã hội là một ví dụ về sự giản đơn bên ngoài liên quan đến cả việc đọc và viết tác phẩm khoa học xã hội.