Syntopicon là một ví dụ về cuốn sách như vậy. Nhưng một số nhà khoa học xã hội cho rằng rất nhiều nhà báo và phóng viên đã khiến khái niệm này phải làm quá nhiều việc. Nhưng với từ cause (nguyên nhân), Eddington lại không thể sử dụng theo nghĩa dễ hiểu như vậy.
Chúng ta học những kinh nghiệm đúc kết trong cuộc sống hằng ngày, kinh nghiệm sẵn có hoặc kinh nghiệm mà các tác phẩm giả tưởng đã tạo ra trong trí tưởng tượng của chúng ta. Kỹ năng cần thiết đầu tiên để viết cuốn Tập san bạn dọc và rất nhiều tạp chí xuất bản định kỳ tương tự là kỹ năng đọc. Khi đọc kiểm soát một cuốn sách, dù thời gian cho phép ít đến đâu, bạn cũng phải trả lời được câu hỏi Sách này thuộc loại gì: tiểu thuyết, lịch sử hay khoa học?.
Vì vậy, chúng tôi sẽ thay thế ba điều kiện lý tưởng trên bằng một hệ thống quy tắc dễ thực hiện hơn bao gồm bốn cách phê bình một cuốn sách. Ở cấp độ một, câu hỏi đặt ra cho người đọc là Câu đó ý nghĩa nói gì?. Shakespeare không để lại bất cứ chỉ dẫn nào về diễn xuất mà người đọc (hoặc đạo diễn) phải tự quyết định.
Một số nghiên cứu xã hội học chỉ đơn thuần mô tả, chứ không đánh giá hay nhận định gì về thái độ, hành vi thực tế của con người thì không được coi là sách về đạo đức hay sách thực hành. Trước khi nói ra điều bạn thích và không thích, bạn phải chắc chắn là mình đã nỗ lực tìm hiểu và đánh giá cao tác phẩm. Khi bạn đọc và hiểu một cuốn sách triết học, bạn đã đạt tới vị thế của người phán xét.
Bạn dễ dàng nhận ra các phần chính của một cuốn sách ngay khi bạn nắm được nội dung cốt lõi. Đây là sự thật thường gặp khi đọc những cuốn tiểu thuyết lớn. Cần hiểu rằng bạn đọc cuốn sách kỹ không phải vì bản thân nó hay mà vì nó cung cấp nhiều vấn đề mà bạn đang tìm hiểu.
Trên phương diện nào đó, không có nhiều điều để nói về các tác phẩm khoa học thường thức. Nền văn minh Trung cổ chủ yếu dựa trên văn nói vì sách thời đó rất hiếm và khó tìm. Nhưng thời gian đó lại chưa có các cơ quan chuyên ngành.
Ví dụ, ta có thể đặt những câu hỏi về sự tồn tại như: sự khác biệt giữa tồn tại và không tồn tại là gì? Điều gì chung cho tất cả những gì tồn tại và mọi thứ tồn tại có những đặc tính nào? Có những cách tồn tại khác nhau không? Có điều gì chỉ tồn tại trong trí óc hay phục vụ trí óc không và chúng ta có biết chúng hay khám phá chúng không? Mọi thứ tồn tại có tồn tại hữu hình không hay có những thứ tồn tại không phụ thuộc vào vật chất? Có phải tất cả mọi thứ đều thay đổi không hay có vật nào đó không bao giờ thay đổi? Có cái gì tồn tại vì cần thiết không? Có phải phạm vi của những thứ có thể tồn tại lớn hơn phạm vi của những thứ thật sự tồn tại không? Điều này càng quan trọng hơn nếu sự kiện chúng ta muốn tìm hiểu mang một ý nghĩa thực tế nào đó đối với chúng ta. Trong những năm 1920, 1930, phương thức này rất thông dụng.
Sách tham khảo sẽ không có tác dụng nếu bạn đang đi lang thang vô định trong màn sương của sự ngu dốt. Với sự trợ giúp của Syntopicon, hướng giải quyết sẽ khác hẳn. Rất nhiều tác phẩm khoa học xã hội là sự pha trộn giữa khoa học, triết học, sử học và thường có chút hư cấu để viết được trơn tru hơn.
Chúng tôi đã đặt câu hỏi này với 25 độc giả, và hơn nửa trả lời là Nguồn gốc của loài người. Có ít nhất năm cách trình bày phương pháp triết học được các nhà triết học vĩ đại của phương Tây sử dụng. Các phần được kết hợp và lồng ghép với nhau khi trình độ thực hiện đã lên đến mức tự động hoá.
Bạn sẽ chỉ cảm nhận được nó khi đọc cả bài thơ chứ không riêng phần nào. Để kiến thức mang tính thực tế, chúng ta phải biết chuyển chúng thành nguyên tắc hoạt động, từ việc biết đó là trường hợp nào sang việc biết phải làm gì để đạt được mục tiêu trong trường hợp đó. GẠCH DƯỚI: Gạch dưới những điểm chính, những nhận định quan trọng hay có sức thuyết phục.